Cách đọc tiếng la tinh

     
*


*

*

*

CÁCH ĐỌC TÊN LATINH Đỗ Xuân Cẩm - Giảng viên ĐH Huế

Trong quá trình trao đổi, hội thoại về nhữngthông tin sinh học dù bằng bất kỳ tiếng nước nào trên thếgiới, lắm lúc phải đọc tên các taxon thực vật, động vật bằngtiếng Latin. Phát âm không chuẩn xác cũng dễ gây hiểu lầm, cókhi từ một loài cần quan tâm lại khiến người nghe hiểu đếnmột loài khác, thậm chí có khi họ không thể nhận ra được làloài gì mặc dù loài muốn nêu là rất quen thuộc. Do vậy, việcphát âm chuẩn xác tiếng Latin là một yêu cầu thiết thực đối vớinhững ai quan tâm đến lĩnh vực phân loại học sinh vật. Nhằm góp phầngiúp các bạn thực hiện mục đích vừa nêu, tôi xin giới thiệu cách phátâm tiếng Latin như sau

 I. Các nguyên âm


Hình thái chữ
Tên gọi
Phát âm
Ví dụ

Viết hoa

Viết thường


A
a
a
a

anatomia, aqua, camphora, tabella


E
e
ê
ê

cera, arteria, cerebrum, ceratus, cicade


I
i
i
i

iecur, labium. liber, digitalis, meninx


J
i
iôta
i

jodum, injectio, jus, jocur


O
o
ô
ô

collum, ovum, dosis, mono, hetero


U
u
u
u

anus, nervus, maximum, caecum


Y
y
ipxilon
u (âm Pháp)

oxygenium, larynx, hybridus

II. Các nguyên âm kép Trongtiếng Latinh có 4 nguyên âm kép có cách phát âm riêng, nhưngnhiều trường hợp do thói quen người ta đã phát âm theo âm tiếngPháp, điều này khiến người nghe hiểu nhầm qua một nguyên âmkhác, từ đó có thể hiểu sai nghĩa thuật ngữ hoặc nhận địnhnhầm một taxon sinh vật.1. Nguyên âm kép ae: phát âm như âm trong tiếng Việt Ví dụ: saepe (nhiều khi), aeger (ốm đau), aether (ete), aetheroleum (tinh dầu), aequalis (bằng), aequivalens (tương đương) ...2. Nguyên âm kép oe: phát âm như âm <ơ> trong tiếng Việt Ví dụ:foetus (thai), oedema (bệnh phù), oenanthe (cây rau cần), ...3. Nguyên âm kép au:do thói quen theo âm Pháp, nhiều người phát âm âm này như âm <ô>tiếng Việt, khiến người nghe nhầm với nguyên âm o. Bởi vậy phải chú ý phát âm chuẩn và cách phát âm đúng cho âm này là như âm trong tiếng Việt.

Bạn đang xem: Cách đọc tiếng la tinh

Ví dụ: aurum (vàng kim), aureus (như vàng kim), auris (tai), auricula (tai nhỏ), aurantium (quả cam) ...4. Nguyên âm kép eu:phải được phát âm như âm <êu> trong tiếng Việt, nhưng do thóiquen theo âm Pháp, nhiều người đã phát âm thành âm <ơ> khiếnngười nghe nhầm với nguyên âm kép oe Ví dụ: euglena (Trùng mắt), eucalyptus (cây Bạch đàn), leucaena (cây Keo dậu), Melaleuca leucadendra (cây Tràm), leucaemia (bệnh bạch cầu), seu (hoặc)...

Lưu ý: aë, oë không phải là nguyên âm kép, khi phát âm phải tách thành 2 âm: aë: phát thành a - ê oë: phát thành ô - ê

III. Các phụ âm

Hình thái chữ

Tên gọi

Phát âm

Ví dụ

Viết hoa

Viết thường

B

b

bờ

bonus, borax, botanica, bufo

C

c

Cờxờ

camphora, collum, corolla caecum, cera, coena, cerebrum

D

d

đê

đờ

dosis, deformis, divisio, duodenum

F

F

epphơ

phờ

facies, fel, finis, flos, folium, functio

G

g

ghê

gờ

ganglion, gaster, gemma, giganteus

H

h

hát

hờ

herba, homo, hora, hybridus

K

k

ca

cờ

kaolinum, keratoma, kola

L

l

enlơ

lờ

labium, larynx, levis, liber, locus

M

m

emmơ

mờ

maximum, meninx, minimum, mutatio

N

n

ennơ

nờ

nasus, nervus, nomen, numero

P

p

pờ

pancreas, penicillinum, pestis, porcus

Q

q

cu

q(u): quờ

quadruplex, quercus, quinque

R

r

errơ

rờ

radix, recipe, rosa, ruber

S

s

etxơ

xơ, dờ

saccharum, semen, solutio sinensis, plasma, dosis, mensa

T

t

tờxờ

taenia, terra, tinctura, toxinum, tubersolutio, natio, scientia

V

v

vờ

vaccinia, variolla, vesper, virus

X

 x

ichxơ

kxờ kdờ

simplex, thorax, xanthomonasexemplum, maxima

Z

z

dêta

dờ

zanthoxylum, zea, protozoa

IV. Các phụ âm kép1. Những phụ âm kép phát ra một âm1.1. Phụ âm kép ch: là phụ âm kép có nguồn gốc Hilạp (X, x: khi), nên phát âm theo âm Hilạp, như trong tiếng Việt. Ví dụ: charta (giấy), character (tính chất), chemia (hóa học), chlorophyllum (diệp lục tố), cholera (bệnh tả), chromosoma (nhiễm sắc thể), arachis (cây lạc, đậu phụng)...1.2. Phụ âm kép ph: cũng có nguồn gốc Hilạp (Φ,ф: phi), nên phát âm như âm trong tiếng Việt. Ví dụ: pharmacia (tiệm thuốc), pharmacologia (dược lý học), pharmacopola (người bán thuốc), pharynx (họng), phoenix (cây chà là), philosophia (triết học), calophyllum (cây mù u)...1.3. Phụ âm kép rh: phát âm như âm có rung lưỡi. Ví dụ: rheum (cây đại hoàng), rheumatismus (tê thấp), rhizoma (thân rễ), diarrhoea (bệnh tiêu chảy), rhodomyrtus (cây sim)...1.4. Phụ âm kép th: là phụ âm kép có nguồn gốc Hilạp (Θ,θ: thêta), nên phát âm theo âm Hilạp, như âm của tiếng Việt.Tuy nhiên, do thói quen phát âm tiếng Pháp nên nhiều người đãphát thành âm . Ví dụ: thea (cây Chè), theatrum (nhà hát), theophylinum (theophylin), anthera (bao phấn), thermometrum (nhiệt kế), thorax (lồng ngực, ức), thymus (tuyến ức)...2. Phụ âm kép vừa phát ra 1 âm vừa phát ra 2 âm: đó là phụ âm kép sc, tùy thuộc nguyên âm theo sau mà có cách phát âm như sau: Phát thành 1 âm như âm trong tiếng Việt khi đứng trước các nguyên âm e, i, y, ae, eu, oe. Ví du: scelus (tội ác), scientia (kiến thức, khoa học), scyphus (cốc uống rượu).Phát thành 2 âm khi đứng trước các nguyên âm o, u, au, aị,oị. Cần nhớ rằng khi phát âm trong trường hợp thứ hai này, âms phát yếu và lướt nhanh để cho âm c thành âm chính. Ví dụ: sclera (củng mạc), scrotum (bìu), sculptura (nghệ thuật điêu khắc)...3. Những phụ âm kép phát ra 2 âm, nhưng phụ âm sau mạnh và dài hơn. Ví dụ: agricultura (nông nghiệp), atrophia (sự teo), fabriqua (cấu trúc), chlorophylla (diệp lục tố), chromosoma (nhiễm sắc thể), pluvialis (thuộc nước mưa), pneumonia (bệnh viêm phổi), primus (thứ nhất), classis (lớp), crystallus (tinh thể), fractura (sự gãy xương), spora (bào tử), tabletta (thuốc phiến)...ps là phụ âm kép có nguồn gốc Hilạp (Ψ, φ: pxi), được phát âm là , ví dụ như Pseudopoda (chân giả), Pseudoryx nghetinhensis (loài Sao la)...4. Phụ âm ghép đặc biệt Các phụ âm đơn "n" và "g" khi đi liền nhau cần được lưu ý rằng:a. Khi chúng ghép thành "ng": tưởng như phụ âm kép, nhưng thật ra đây không phải là phụ âm kép, khi phát âm phải tách ra từng âm một, n cho âm tiết trước và g cho âm tiết sau. Ví dụ: lingua (ngôn ngữ) phát âm thành lin-gua fungus (nấm) phát âm thành fun-gusmangifera (cây xoài) phát âm thành man-giferaunguentum (thuốc bôi dẽo) phát âm thành un-guentum...b. Khi chúng ghép thành "gn": có hai trường hợp:Đứng đầu từ: là một phụ âm kép Ví dụ: Gnetum (cây Dây gắm)Đứng giữa từ: phát âm tách rời 2 phụ âm ra, phụ âm g cho âm tiết trước và phụ âm ncho âm tiết sau. Do thói quen phát âm tiếng Pháp nên nhiều ngườiphát âm 2 phụ âm này như phụ âm kép nh trong tiếng Việt. Ví dụ: lignum (gỗ), lignosus (cứng như gỗ), magnesium (manhê)...V. Những nguyên âm và phụ âm có cách phát âm cần lưu ýCó một số nguyên âm và phụ âm có cách phát âm đặc biệt cầnđược lưu ý, thông thường do thói quen phát âm tiếng Việt vàtiếng Pháp khiến một số người hay nhầm lẫn.1. Nguyên âm i và j:tuy có cách viết khác nhau nhưng cả hai đều cùng một cáchphát âm là . Do vậy có thể viết cách này hay cách khácnhưng vẫn đồng nhất cách đọc. Ví dụ: iod có thể viết iodum hay jodum Tương tự như thế, chữ j trong các từ sau đây đều được phát âm là :jecur (gan), jecuroleum (dầu gan), jecuroleum jecuris aselli (dầu gan cá thu), jus (nước ép), injectio (thuốc tiêm)...2. Nguyên âm y: là một nguyên âm gốc Hilạp (Y, u: ipxilon) được Latinh hóa, phải phát âm như nguyên âm utrong tiếng Pháp, nhưng có lẽ do thói quen và cũng có thể dođể dễ phát âm hơn mà người ta đã phát âm trại thành Ví dụ: Tất cả các nguyên âm y trong các từ sau đây đều phải được phát âm chuẩn như âm của tiếng Pháp: larynx (thực quản), hybridus (lai tạo), glycogenum (glycogen), hydroxidum (hidroxit), hydragyrum (thủy ngân)...3. Phụ âm c: có hai cách phát âm khác nhau:a. Phát âm như âm tiếng Việt khi nó đứng trước các nguyên âm a, o, u Ví dụ: calyx (đài hoa), camphora (long não), collum (cổ), cor (tim), cubitus (khuỷu tay), collenchyma (mô dày)...b.Phát âm như âm tiếng Việt khi nó đứng trước các nguyên âm i, e, y, ae, oe Ví dụ: centum (một trăm), cerebrum (não), ceratus (có sáp), citratus (mùi chanh), cicade (ve sầu), cyathium (cái chén), cyathiformis (dạng chén), caecum (manh tràng), coena (bữa ăn chiều)...4. Phụ âm g:phát âm như âm tiếng Việt trong mọi trường hợp. Tuy nhiêncũng có người quen phát âm như âm của tiếng Pháp với 1 sốtrường hợp.

Xem thêm: Cách Làm Thịt Heo Ngâm Nước Mắm Thơm Ngon Đậm Đà, Cực Hao Cơm

Ví dụ: ganglion (hạch), geminatus (sinh đôi), gemma (chồi, búp), glycogenium (glycogen), digitalis (cây Dương địa hoàng)...5. Phụ âm q: không đi một mình, muốn phát âm được nó phải đi kèm với nguyên âm u tạo thành phụ âm đặc biệt và được phát âm như âm trong tiếng Việt. Ví dụ: aqua (nước), quercus (cây sồi), quisqualis (cây sử quân tử)...6. Phụ âm r: khi phát âm phải rung lưỡi. Ví dụ: ren (thận), resina (nhựa), rosa (hoa hồng), ruber (màu đỏ), spora (bào tử)... 7. Phụ âm s: có hai cách phát âm:a. Phát âm như tiếng Việt khi nó bị kẹp giữa hai nguyên âm hoặc giữa một nguyên âm và phụ âm m hay n Ví dụ: plasma (huyết tương), gargarisma (thuốc súc miệng), sinensis (ở Trung quốc), tonkinensis (ở Bắc bộ), dosis (liều lượng), resina (nhựa)...b. Phát âm như âm tiếng Việt đối với những trường hợp còn lại. Ví dụ: saepe (nhiều khi), saccharum (mía), simplex (giản đơn), spora (bào tử), stigma (nuốm nhụy), suber (chất bần, sube), syrupus (xiro), semen (hạt), sucrosum (đường)...8. Phụ âm t: có hai cách phát âm:a. Phát âm như âm tiếng Việt khi nó đứng trước nguyên âm i mà sau nguyên âm i lại có thêm một nguyên âm khác nữa. Ví dụ: natio (quốc gia), copulatio (sự giao hợp), dehiscentia (sự nứt nẻ), factitius (nhân tạo), aurantium (quả cam)...b. Phát âm như âm của tiếng Việt khi kết cấu như trên nhưng có thêm một trong 3 phụ âm s, t, x đi liền trước phụ âm t Ví dụ: ustio (sự đốt cháy), mixtio (sự trộn lẫn), poinsettia (cây Trạng nguyên)...

*
c. Những trường hợp còn lại đều được phát âm như âm tiếng Việt. Ví du: asteria (động mạch), costa (xương sườn), stomata (khí khổng), taenia (sán dây), tunica (áo)...9. Phụ âm x: có hai cách phát âm:a. Phát âm khi nó bị kẹp giữa hai nguyên âm. Ví dụ: exemplar (bản), exemplum (ví dụ), maximum (cực đại), maxilla (hàm trên)...b. Phát âm ở những trường hợp còn lại. Ví dụ: radix (rễ), meninx (màng não), extractum (cao)...10. Phụ âm z:là một phụ âm có nguồn gốc Hilạp (Z, ζ : zêta), ngoài ra trongtiếng Latinh nhiều lúc cũng tồn tại một số thuật ngữ cónguồn gốc tiếng Đức. Trong mỗi trường hợp đều có cách phát âm riêng.a. Nếu nguồn gốc tiếng Hilạp thì được phát âm Ví dụ: zea (cây ngô), rhizoma (thân rễ), rhizobium (nấm rễ)...b. Nếu nguồn gốc tiếng Đức thì phát âm Ví dụ: zincum (kẽm)11. Phụ âm w: Trong bộ mẫu chữ cái tiếng Latinh không có phụ âm w,nhưng do yêu cầu xây dựng những thuật ngữ khoa học người ta đãđưa thêm nó vào. Cách phát âm tùy thuộc nguồn gốc thuật ngữcó chứa phụ âm w.a. Nếu nguồn gốc tiếng Đức thì phát âm như âm tiếng Việt.b. Nếu nguồn gốc tiếng Anh, Mỹ thì phát âm như âm của tiếng Anh

CÁCH VIẾT TÊN LATINH

Trong quá trình học tập và nghiên cứu các dược liệucó nguồn gốc thực vật, sinh viên ngành Dược và cán bộ nghiên cứu liênquan thường xuyên tiếp cận tên khoa học của các dược liệu và cây dượcliệu. Tên khoa học của cả hai thành phần vừa nói thuộc phạm trùdanh pháp, nên luôn tuân thủ nguyên tắc quốc tế. Nguyên tắc đó bao gồmcả nguyên tắc về đặt tên thuốc và nguyên tắc đặt tên cây. Mặt khác, dodanh pháp sử dụng tiếng Latin, nên đồng thời cũng phải tuân thủ nguyêntắc ngữ pháp của tiếng Latin. Chính vì những yêu cầu nghiêm ngặt đókhiến cho những người ít nghiên cứu hoặc ít quan tâm các nguyên tắc nóitrên dễ nhầm lẫn khi sử dụng tài liệu. Thực tế cho thấy, cũng có một sốtài liệu đã có những nhầm lẫn trong cách viết tên dược liệu và tên câydược liệu, có lẽ phần lớn do lỗi in ấn. Như vậy, tốt hơn hết, trước khi thâm nhập nghiên cứu tên dược liệu và tên cây dược liệu, người học nên biết:I. Nguyên tắc viết tên Latin các dược liệu có nguồn gốc thảo dược Trong thực tế, tên Latin một dược liệu có thể được viết theo một trong bốn dạng sau: 1. Dạng thứ nhất: Danh từ chỉ dạng thuốc viết ở thể chủ cách (nominativus) + tên chi cây dược liệu viết ở thể sở hữu cách (genitivus). Ví dụ: Herba ocimi (Hương nhu) Trong đó: - herba: thân thảo, được hiểu là toàn thân cây thảo; - ocimi: sở hữu cách của Ocimum, tên khoa học của chi Hương nhu.Dạng này không cụ thể, vì có trường hợp nhiều loài cây dược liệu cùngchi thực vật có thể dùng thay nhau vì có tính chất tương đồng, có tácdụng dược học gần giống nhau; nhưng cũng rất nhiều trường hợp các loàicùng chi có tác dụng dược học khác nhau hoặc chưa được nghiên cứu, rấtdễ gây nhầm lẫn. Ví dụ: Nếu chỉ viết Radix angelicae thì người sử dụng không rõ đó là Bạch chỉ hay Đương qui. Hai vị thuốc này có nguồn gốc từ hai loài khác nhau trong chi Angelica. Trường hợp này phải viết theo dạng thứ hai dưới đây.2. Dạng thứ hai: Danh từ chỉ dạng thuốc viết ở thể chủ cách + tên loài cây dược liệu viết ở thể sở hữu cách. Ví dụ 1: Radix stemonae tuberosae (Bách bộ) Trong đó: - radix: rễ cây - stemonae tuberosae: sở hữu cách của Stemona tuberosa, tên khoa học của cây Bách bộ. Ví dụ 2: Radix angelicae dahuricae (Bạch chỉ) Trong đó: - angelicae dahuricae: sở hữu cách của Angelica dahurica, tên khoa học của cây Bạch chỉ. Ví dụ 3: Radix angelicae sinensis (Đương qui) Trong đó: - angelicae sinensis: sở hữu cách của Angelica sinensis, tên khoa học của cây Đương qui3. Dạng thứ ba:Danh từ chỉ dạng thuốc viết ở thể chủ cách + tên chi cây dược liệu viếtở thể sở hữu cách + tính ngữ chỉ tính chất của dạng thuốc. Ví dụ 1: Lignum aquilariae resinatum (Gỗ có nhựa của cây Dó trầm) Trong đó: - lignum: gỗ - resinatum: có nhựa (tính từ giống trung, bổ nghĩa cho lignum) - aquilariae: sở hữu cách của Aquilaria, tên khoa học của chi Dó (Dó trầm). Ví dụ 2: Semen vignae praeparatum (Hạt của cây Đậu đen chế) Trong đó: - semen: hạt - praeparatum: được chế (tính từ giống trung, bổ nghĩa cho semen) - vignae: sở hữu cách của Vigna, tên khoa học của chi Đậu đen.4. Dạng thứ tư:Danh từ chỉ dạng thuốc viết ở thể chủ cách + tên loài cây dược liệuviết ở thể sở hữu cách + tính ngữ chỉ tính chất của dạng thuốc. Ví dụ: Radix rehmanniae glutinosae praeparata (Rễ cây Địa hoàng chế) Trong đó: - radix: rễ cây - praeparata: được chế (tính từ giống cái, bổ nghĩa cho radix) - rehmanniae glutinosae: sở hữu cách của Rehmannia glutinosa, tên khoa học của cây Địa hoàngDanh từ chỉ dạng thuốc thường chỉ một bộ phận, cơ quan của cây dượcliệu. Nhưng cũng có nhiều trường hợp nhiều cơ quan, bộ phận khác nhaucủa cùng một loài cây được dùng làm thuốc, lúc đó trong tên dược liệusẽ xuất hiện cùng lúc nhiều danh từ chỉ dạng thuốc. Các danh từ đó cóthể được liệt kê theo dạng dùng dấu phẩy, hoặc liên từ Latin "et", tấtcả đều được viết ở thể chủ cách, ví dụ: Gemma et cortexpsidii: búp và vỏ cây Ổi. Các danh từ đó cũng có thể được nối nhau bởimột giới từ Latin, lúc đó danh từ đi sau giới từ phải được viết ở thểtạo cách (ablativus), ví dụ: Flos cum folio daturae: Hoa cùng với lá cây Cà độc dược (lúc này không thể viết cum folium được).Cũng có khi phải dùng danh từ kép để chỉ dạng thuốc thì danh từ chínhviết ở thể chủ cách, danh từ bổ nghĩa viết ở thể sở hữu cách, ví dụ: Cortex licii radicis hoặc Cortex radicis licii:Địa cốt bì, vỏ rễ cây Câu kỉ. Trong tên dược liệu, tên khoa học của cây dược liệu đã chuyển sang thể sở hữu cách, về mặt ngữ pháp nó đóng vai trò một tính ngữ, không còn là danh pháp loài, theo tôi không nên viết hoa. (Nhiều tài liệu vẫn viết hoa, như vậy là không đúng luật ngữ phápLatin. Có lẽ do thói quen viết hoa để nhấn mạnh các thành tố trong từngcụm từ, một số tài liệu tiếng Anh đã viết hoa cả tính ngữ. Tuy nhiên,chúng ta cần phân định rõ văn phong tiếng Anh với văn phong tiếngLatin). Khi chúng ta chuyển ngữ tên dược liệu thì tên cây lại trở về thể chủ cách, lúc ấy mới viết hoa. Ví dụ: Radix stemonae tuberosae → Rễ cây Bách bộ Stemona tuberosa → The root of Stemona tuberosa speciesII. Nguyên tắc viết tên Latin cây dược liệu: Tên khoa học các cây dược liệu phải được viết theo nguyên tắc quốc tế về đặt tên thực vật. Nguyên tắc đó là:1. Tên chi: là một danh từ luôn được viết hoa ở thể chủ cách. 2. Tên loài:Là một tập hợp hai từ, trong đó từ thứ nhất là tên chi, từ thứ hai làtính ngữ khoa học chỉ đặc điểm của loài, không viết hoa. Từ thứ hai cóthể là danh từ hoặc tính từ. Nếu là danh từ thì có hai khả năng: - Danh từ đồng vị (cùng nghĩa hoặc có nghĩa gần) với danh từ chỉ tên chi: được viết ở thể chủ cách. Ví dụ:

Cinnamomum cassia (Quế)Areca catechu (Cau)Danh từ không đồng vị với danh từ chỉ tên chi: phải viết ở thể sở hữucách. Lúc này dù nó bắt nguồn từ tên người hoặc tên quốc gia cũng khôngviết hoa (vì không còn là danh từ riêng). Ví dụ:

Pueraria thomsonii (Sắn dây)Nếu là tính từ (có thể tính từ nguyên cấp hay tính từ so sánh) thì phải viết hợp giống với danh từ chỉ tên chi. Ví dụ:

Taraxacum officinalis (Bồ công anh Trung Quốc)Zingiber officinale (Gừng)3. Nguyên tắc trích dẫn tên tác giả: Để đảm bảo tính chính xác, sau tên khoa học của chi hay loài còn yêucầu viết kèm tên tác giả công bố. Có thể đó là tên một người hoặc cùnglúc tên của nhiều người. Các tên này thường được viết tắt. Để tránh nhầm lẫn, luật quốc tế về đặt tên thực vật qui định: Trong vănbản viết tay hoặc đánh máy chữ, tên loài phải được gạch chân, tên tácgiả không gạch. Trong văn bản đánh máy vi tính hoặc in offset, tên loàiphải được in nghiêng, còn tên tác giả in đứng.

  Thuật ngữ chi "giống" trong phân loại sinh vật

Khi học tập, nghiên cứu phân loại học sinh vật, mộtphạm trù không thể bỏ qua được là "Nguyên tắc phân loại". Một trongnhững nội dung cơ bản và quan trọng của nguyên tắc phân loại là "Bậcphân loại", trong đó bậc loài được gọi là bậc phân loại cơ sở. Thuậtngữ quốc tế (viết bằng tiếng Latin) dành cho bậc này là species. Ngoàithuật ngữ quốc tế đó, sẽ có rất nhiều thuật ngữ tương đương do các nhàkhoa học chuyên ngành của từng quốc gia chọn. Chẳng hạn như thuật ngữtiếng Việt là "loài", tiếng Anh là "species", tiếng Pháp là "espèce"… Một bậc phân loại trên bậc loài được viết bằng tiếng Latin là "genus",trong khi các nhà khoa học trên thế giới thống nhất dùng tiếng Anh là"genus", tiếng Pháp là "genre", thì các nhà khoa học Việt Nam đã khôngđồng nhất khi chọn một thuật ngữ tiếng Việt tương đương. Các nhà phânloại học thực vật dùng thuật ngữ "chi", các nhà phân loại học động vật dùng thuật ngữ "giống".

Chính đây là khía cạnh chúng tôi muốn trao đổi.Sinh viên khi được học cùng lúc cả hai môn học "phân loại thực vật" và"phân loại động vật" không khỏi băn khoăn về sự thiếu đồng nhất này vàđôi khi lẫn lộn trong quá trình kiểm tra, thi cử hay viết khóa luậncuối khóa. Sự nhầm lẫn không dừng lại ở đó, đôi khi nó còn đeo đẳng gâybức rức cho họ suốt cả cuộc đời gắn bó với nghề nghiệp. Đó là một trùnglặp gây phiền toái về mặt học thuật cho bất kì ai khi thâm nhập vàolĩnh vực sản xuất nông lâm ngư nghiệp. Bởi rằng, ai đã một lần học phânloại động, thực vật đều biết dưới bậc loài còn có những bậc phân loạidành để chỉ cho những nhóm sinh vật tuy cùng loài, nhưng mang những đặcđiểm di truyền thể hiện qua kiểu hình (đặc điểm hình thái, cấu tạo,sinh lí…) khác nhau rõ nét, khiến loài người nói chung và các nhà sảnxuất, các nhà khoa học nói riêng phân chúng thành những nhóm nhỏ vàdùng một thuật ngữ nào đó gọi chung là các bậc dưới loài. Trong khoa học, các bậc đó theo trình tự từ loài xuống dần là phân loài(L.: subspecies; E.: subspecies; F.: subespèce) thứ (L.: varietas; E.:variety; F.: variété), dạng (L.: forma; E.: form; F.: forme)*... Trongsố đó, ở động vật học, cấp thường được dùng là phân loài, còn ở thựcvật học thì cả phân loài và thứ, đôi khi còn cả dạng nữa.Trong sản xuất, các cây trồng và vật nuôi luôn được chỉ thị bằng cấpbậc giống. Để biểu thị cho bậc giống này, đối với cây trồng gần như đasố nhiều nước trên thế giới dùng thuật ngữ "cultivar" là một từ viếtgọn từ tiếng Anh cultivated variety, còn đối với vật nuôi thì "breed"là dạng viết gọn của "animal breed". Đối chiếu với hệ thống phát sinh chủng loại, giống trong nông nghiệp cólúc là thứ (varietas), cũng có lúc là dạng (forma), thậm chí là một cấpthấp hơn. Ví dụ: trong lâm nghiệp vẫn thường gọi "giống thông Bahama,giống thông Honduras" để chỉ các thứ (varietas) thông thuộc loài thôngCaribe (Pinus caribaea) được phát hiện ở Bahama và Honduras. Và giống thông Bahama đó mang tên khoa học là Pinus caribaea var. bahamensis, giống thông Honduras mang tên khoa học là Pinus caribaea var. hondurensis.Trong các tên khoa học đó, var. là từ viết tắt của varietas (thứ).Tương tự như thế, trong ngành cây cảnh và hoa, người ta vẫn gọi giốngcô-tòng lá vặn với tên khoa học Codiaeum variegatum var. pictum  f. spirale. Trong đó f. là dạng viết tắt của forma (dạng).Đôi khi, giống còn được chỉ tên bằng một kí hiệu hay một từ địa phương,chẳng hạn như trong nghề sản xuất lúa nước, ở Việt Nam đã và đang trồngphổ biến nhiều giống lúa thuộc loài Oryza sativa như Thần nông, VN, Khang dân, OM, MTL, CN, CR, IR, 13/2, gie, chùm, hẻo, chiêm…

Như vậy, đối với Thực vật học, chuyện dùng thuậtngữ cho các bậc phân loại dưới loài và cho bậc "genus" không có gì đểbàn, vì không có sự trùng lặp. Điều cần bàn là đối với lĩnh vực Độngvật học.Như đã nói ở trên, trong Phân loại học động vật, cấp "genus" không đượcgọi là chi như Thực vật học, mà được gọi là giống. Chính cách gọi nàyđã gây không ít khó khăn cho việc tiếp cận sản xuất. Nhiều giống vậtnuôi hiện nay đều là những nhóm quần thể sinh học mang kiểu gen ở cấpdưới loài. Ngành nông nghiệp Việt Nam cũng đồng nhất với nông dân dùngthuật ngữ giống để chỉ một cấp bậc phân loại dưới loài. Chẳng hạn nhưcùng một loài heo nhà Sus domesticus,ở nông thôn Việt Nam đang tồn tại nhiều giống như Ba xuyên, Đại bạch,Ỉ, Lan Hồng, Mông cái, Thuộc nhiêu, Trắng Phú Khánh, Beshire, Duroc,Hamshire, Landrace,Yorshire… Tương tự như thế, trong mỗi loài bò, dê,gà, vịt cũng gồm nhiều giống khác nhau.

Suy cho cùng, người Việt Nam học phân loại sinhvật cuối cùng cũng để phục vụ sản xuất, bảo tồn đa dạng sinh học. Cónghĩa là,người học phân loại động vật khi ra trường cũng có lúc phảitiếp cận với môi trường chăn nuôi. Lúc đó, họ sẽ nhận ra điều gì khiphải lập một sơ đồ hệ thống phát sinh chủng loại, trong đó có đến 2 cấp giống như sau: 


Chuyên mục: Kiến thức thú vị